Lăng Tự Đức: Bức Tranh Phản Chiếu Tâm Hồn Đa Sầu Của Vua Tự Đức

Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng) - viên ngọc trữ tình nhất trong hệ thống lăng tẩm Huế. Khám phá nơi an nghỉ của vị vua thi sĩ, nơi kiến trúc hài hòa với thiên nhiên tạo nên một "bài thơ đá" đầy tâm sự giữa rừng thông và hồ nước. Tìm hiểu câu chuyện về cuộc đời đầy bi kịch và tâm hồn nghệ sĩ của vua Tự Đức

Tóm tắt về Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức, còn gọi là Khiêm Lăng, là quần thể kiến trúc và cảnh quan gắn với cuộc đời nhiều trăn trở của vị vua thứ tư triều Nguyễn. Bài viết giới thiệu quá trình xây dựng, cuộc nổi dậy Chày Vôi, khu tẩm điện, hồ Lưu Khiêm, Minh Khiêm Đường, bia Khiêm Cung Ký, Bửu Thành, Khiêm Thọ Lăng và Bồi Lăng.

Thông tin nổi bật

  • Tên gọi: Lăng Tự Đức – Khiêm Lăng.
  • Khởi công: Tháng 12 năm 1864; cơ bản hoàn thành năm 1867 và tiếp tục bổ sung sau khi vua mất.
  • Điểm nhấn: Hồ Lưu Khiêm, đảo Tịnh Khiêm, Xung Khiêm Tạ, Hòa Khiêm Điện, Minh Khiêm Đường và bia Khiêm Cung Ký.
  • Giá trị: Sự kết hợp giữa kiến trúc, cảnh quan, lịch sử, văn học và nghệ thuật triều Nguyễn.

Câu hỏi thường gặp về Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức còn có tên gọi nào?

Lăng Tự Đức còn được gọi là Khiêm Lăng; công trình ban đầu có tên Vạn Niên Cơ và sau đó đổi thành Khiêm Cung.

Điểm nổi bật của Lăng Tự Đức là gì?

Quần thể nổi bật bởi sự hòa quyện giữa kiến trúc và cảnh quan với hồ Lưu Khiêm, đảo Tịnh Khiêm, các điện, tạ, rừng thông và hệ thống công trình mang chữ Khiêm.

Bia Khiêm Cung Ký có giá trị gì?

Khiêm Cung Ký do vua Tự Đức tự soạn, gồm 4.935 chữ Hán và được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2015.

Vua Tự Đức là vị Hoàng đế thứ 4 của triểu Nguyễn, nhà vua tên là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Ngài sinh ngày 25 tháng 08 năm Kỷ Sửu (22/ 09/ 1829), là con trai thứ hai của Hiến Tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị và Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Từ Dũ. Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847) hoàng tử Nguyễn Phúc Hồng Nhậm lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa lấy niên hiệu Tự Đức (1848 - 1883).

Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức – Khiêm Lăng giữa không gian xanh của xứ Huế

Lăng Tự Đức Huế là một quần thể kiến trúc đặc sắc của triều Nguyễn, nổi bật với không gian thơ mộng, sự hòa quyện giữa kiến trúc và thiên nhiên, trở thành điểm tham quan đặc biệt thu hút du khách khi đến Huế.

Sự nghiệp của vua Tự Đức

Vua Tự Đức trị vì trong thời điểm khó khăn nhất của đất nước vào nửa cuối thế kỷ XIX, với bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội rối ren. Bên trong hoàng tộc mâu thuẫn nội bộ, tranh giành ngôi báu. Ngoài Bắc nạn đói kém mất mùa, thiên tai dịch bệnh xảy ra liên tiếp khiến cho các cuộc khởi nghĩa nông dân đã diễn ra khắp nơi. Bên ngoài thì phải đối phó với giặc xâm lăng, bản thân nhà vua hay đau ốm bệnh tật, lại không có con, vua thường day dứt với nhiều nỗi buồn...

Theo quan niệm "Sinh ký tử quy", có nghĩa là "Sống gửi thác về", để yên tâm trước khi nhắm mắt xuôi tay, các vị hoàng để triều Nguyễn đều cho xây dựng lăng tẩm cho mình. Theo lệ đó, vua Tự Đức đã cho xây dựng cung diện thứ hai của mình làm nơi nghỉ ngơi và phòng khi ra đi bất chợt. Sau nhiều năm tìm kiếm, các quan địa lý đã chọn được cuộc đất tốt "vạn niên cát địa" (đất tốt vạn năm) tại ấp Trâm Bái, làng Dương Xuân, huyện Hương Thủy (nay là phường Thủy Xuân, thành phố Huế).

Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức được khởi công xây dựng vào tháng 12 năm năm 1864 với tên gọi ban đầu là 'Vạn Niên Cơ". Theo dự kiến của Bộ Công thì công trình sẽ được thi công trong vòng 6 đến 7 năm với sự góp mặt của 3.000 lính và thợ, đặt dưới sự trực tiếp chỉ huy và điều hành của Thị lang Bộ Công Nguyễn Bỉnh (sau này là Thượng thư Bộ Công) cùng Biện lý Bộ Công Nguyễn Văn Chất và Thống chế Lê Văn Xa. Các lính thợ sẽ được thay phiên nhau về nghỉ 3 tháng một lần. Năm 1865, Nguyễn Văn Chất và Lê Văn Xa muốn được lòng vua Tự Đức nên đã tâu xin rút ngắn thời gian thi công xuống còn 3 năm. Để đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn, hai viên quan này đã tìm mọi cách để đẩy nhanh tiến độ thi công.

Hàng ngàn lính thợ đã không có thời gian nghỉ ngơi, lại phải lao động quá sức dưới những điều kiện khắc nghiệt, nên vào năm 1866 tại công trình đang thi công này đã diễn ra cuộc khởi nghĩa của lính và thợ dưới sự lãnh đạo của Đoàn Trưng, Đoàn Tư Trực, Đoàn Hữu Ái. Nhà Nguyễn gọi cuộc khởi nghĩa này là Giặc Chày Vôi, bởi vì binh lính và thợ thuyền đã dụng cụ lao động là chày giã vôi làm vũ khí tấn công vào hoàng cung. Tuy cuộc khởi nghĩa bị thất bại, họ Đoàn còn bị tru di tam tộc, nhưng cũng từ đó thanh danh của vua Tự Đức bị tốn thương nặng nề, một bầu không khí tang tóc bao trùm đất Kinh đô và công trình Vạn Niên Cơ, dân chúng oán thán: "Vạn niên là vạn niên nào Thành xây xương lính, hào đào máu dân". Để xóa đi những ký ức ấy trong dân chúng, nhà vua cho đổi tên công trình "Vạn Niên" thành "Khiêm Cung" và sau khi nhà vua mất gọi là Khiêm Lăng.

Sau cuộc khởi nghĩa Chày Với vua Tự Đức đã điều Nguyễn Tri Phương về Kinh để ổn định tình hình trị an, đồng thời cho Phan Đình Bình đọc chiếu "vỗ an bá tánh". Công việc xây dựng Khiêm Lăng lại được tiếp tục, đến năm 1867 thì cơ bản hoàn thành.

Lúc sinh thời vua Tự Đức chỉ thiết kế hơn một nửa đồ án quy hoạch của Khiêm Cung, tức là chỉ bao gồm các công trình để làm nơi nghỉ ngơi, giải trí chứ chưa cho xây những công trình dành cho người đã chết như: sân Bái Đình, Huyền cung hay huyệt mộ.

Ngày 16 tháng 06 năm Quý Mùi (19/07/1883) vua Tự Đức băng hà, đến tháng 08 năm 1883 Bộ Công mới cho xây đường Toại đạo và Huyền cung. Nhưng đến ngày mồng 02 tháng Chạp năm Quý Mùi (30/12/1883) mới làm lễ an táng nhà vua. Sau đó Bộ Công tiếp tục xây dựng đến tháng 09 năm Giáp Thân (10/1884).

Trong khu vực Khiêm lăng sau này còn xây thêm lăng vua Kiến Phúc (là con nuôi của vua Tự Đức) và lăng của bà Lệ Thiên Anh Hoàng hậu.

Vụ Khiêm Môn và Chí Khiêm Đường

Qua khỏi cửa Vụ Khiêm men theo lối đi lát gạch Bát Tràng uốn lượn mềm mại, là Chí Khiêm Đường, nơi thờ các phi tần của các triều vua trước và các phi tần của vua Tự Đức. Khu vực này có khuôn viên hẹp, qua thời gian đã bị xuống cấp và ngày nay đã được trùng tu, tôn tạo khang trang.

Hồ Lưu Khiêm và Đảo Tịnh Khiêm

Từ Khiêm Cung Môn bước xuống hai tầng sân là hồ Lưu Khiêm. Các nhà kiến trúc thời đó đã lợi dụng nguồn nước của hai con suối tự nhiên để đào sâu, nới rộng và uốn nắn các thế đất tạo nên hồ Lưu Khiêm. Hồ vào mùa hè được trồng sen tạo cảnh đẹp, ngày xưa trên hồ có hai con thuyền tên là Thuận Khiêm và Ốn Khiêm, thi thoảng nhà vua dạo thuyền ngắm cảnh. Giữa hồ là đảo Tịnh Khiêm, một hòn giá sơn lớn, trồng nhiều cây quý và nuôi thú hiểm, trên đảo còn có 3 ngôi dình nhỏ: Nhã Khiêm, Lạc Khiêm và Tiêu Khiêm. Hồ Lưu Khiêm và đảo Tịnh Khiêm là yếu tố minh đường, tụ thủy tích phúc cho con cháu đời sau.

Dũ Khiêm Tạ và Xung Khiêm Tạ

Bên hồ Lưu Khiêm có nhà Dũ Khiêm Tạ và Xung Khiêm Tạ, là nơi nhà vua ngồi ngằm cảnh và làm thơ, mỗi công trình đều có nét kiến trúc độc đáo và trang trí mỹ thuật tinh xảo, góp phần tạo nên sự phong phú cùng vẻ đẹp thanh thoát cổ điển cho toàn bộ công trình.

Hồ Lưu Khiêm, đảo Tịnh Khiêm cùng với Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ là những yếu tố cấu thành vẻ đẹp mang chất lãng mạn, trữ tình trong Khiêm Lăng. Một trong những khu vườn lăng nổi tiếng tại Huế.

KHU TẨM ĐIỆN

Tổng thể lăng vua Tự Đức được bố trí thành hai khu riêng biệt: khu Tẩm điện và khu Lăng mộ, hai khu vực này được ngăn cách bởi một bức tường cao. Khu vực tẩm điện có qui mô khá lớn. Chính giữa mặt tường phía trước là Khiêm Cung Môn. Bước qua cửa là một sân rộng lát gạch Bát Tràng, hai bên có hai tòa nhậ Lễ Khiêm Vu và Pháp Khiêm Vu, nắm ở vị trí chính giữa là Hòa Khiêm Điện.

Sau điện Hòa Khiêm là Lương Khiêm Điện, hai bên có hai công trình khác là Minh Khiêm Đường và On Khiêm Điện, Cả 4 tòa nhà được xây nối liền với nhau, tạo thành một tố hợp kiến trúc hình chủ khẩu. Khiêm Cung môn Khiêm Cung Môn là một công trình bằng gô xây theo kiểu cổ lâu 2 tầng, tăng dưới 3 gian ứng với 3 lôi đi, tăng trên là tháp canh 1 gian. Trên cửa có treo một bức hoành phi sơn son, thếp vàng, chạm lưỡng long triều nguyệt và tên công trình "Khiêm Cung Môn".

Từ Khiêm Cung Môn nhìn về phía trước, bên ngoài La thành là núi Dẫn Khiêm (tên địa phương gọi là Động Án), thấp hơn là Long Khiêm Sơn. Chếch về bên trái trước mặt lăng là Đạo Khiêm Sơn (tượng trưng: "Tả Thanh long") và đối xứng ngọn đồi bên phải có tên Lao Khiêm Sơn (tượng trưng: "Hữu Bạch hố'). Đây chính là các yếu tố "tiến án" và "rồng chầu hổ phục" trong thuật phong thuy, che chắn và chầu về phía trước cho cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ của Khiêm Lăng.

Phía sau Khiêm Cung Môn là một sản gạch rộng, giữa có đường thần đạo lát bằng đá Thanh. Trên sân có đặt một đinh đồng hình chữ nhật dùng cho mục dích cúng tế tại khu vực này. Hai dãy hai bên thiết đặt bốn thống bằng đồng đúc dưới thời vua Minh Mạng và các chậu cảnh bằng sứ men lam. Hai bên sân có hai nhà Lễ Khiêm Vu và Pháp Khiêm Vu. Lễ Khiêm Vu

Pháp Khiêm Vu

Về kết cấu, hai công trình này được xây đơn giản theo cùng một kiếu thức nhà 3 gian, tất cả các chi tiết trên vì nóc, keo, xà đều không chạm trố, sơn thếp. Mặt trước có cửa bảng khoa thượng song hạ bản. Bên trong nhà, ở gian giữa có đặt các bàn thờ. Trên bàn thờ có các đồ tự khi và nhiều bài vị. Mái hai tòa nhà lợp ngói liệt, tráng men màu xanh lục. Các đầu bờ mái đều có đắp hình lá, giữa nóc dắp hình hoa sen. Hai công trình này đùng làm nơi chuẩn bị triểu phục, tấu chương của các quan văn, vỗ mỗi khi họ theo hầu vua Tự Đức lên ở Khiêm Cung, và sau này, đây cũng là nơi thờ tự khi họ qua đời.

Hòa Khiêm Điện

Đây nguyên là nơi làm việc của vua Tự Đức mỗi khi lên Khiêm Cung, sau khi nhà vua băng hà, linh cửu được quàn ở đây trong gần 5 tháng rồi mới đưa ra khu vực lăng an táng, từ đó điện dùng làm điện thờ vua va hoang hau. Hòa Khiêm là một tòa "nhà kép" xây dựng theo kiểu "trùng lương trùng thiềm", nhà trước có 7 gian 2 chái, nhà sau 5 gian 2 chái kép. Tiền doanh gồm 3 hàng cột ngang, với 7 bộ vì nóc dạng chông rường giá thú với nhiêu mô - típ chạm trồ tinh xáo hình hoa lá. Đề ngăn ngôi nhà ra làm nhiều không gian khác nhau, một hệ thống vách đố bằng gỗ làm theo kiểu đố lụa khung tranh được sử dụng trên vách đố là liên ba che kín từ trần cho đến nền. Nền tiền doanh và hai chái bên chính doanh lát gạch Bát Tràng tráng men hai màu vàng, xanh.

Mái điện Hòa Khiêm lợp ngói âm dương tráng men vàng. Hàng cổ diêm và bờ mái được chia ô hộc trang trí gạch hoa đúc rỗng Ơ giữa bờ nóc tiền doanh đắp hình "Dơi hàm Thợ' (Dơi ngậm chữ Thọ), trên đội bầu rượu; nóc chính doanh trang trí hình mặt trời bằng pháp lam, hai bên có 2 hình ký hà. Hai đầu bờ nóc trang trí hồi long bằng pháp lam nhiều màu. Chính giữa tiền doanh, phía trên có treo tấm hoành phi để ba chữ "Hòa Khiêm Điện" và dòng lạc khoản: "Tự Đức thập thất niên thập nhị nguyệt cát nhật tạo" (năm Tự Đức thứ 17, ngày tốt tháng 12 xây dựng). Nội thất của tòà nhà được sơn đen, trong khi các đồ thờ tự đều được sơn son, thếp vàng rực rỡ.

Toàn bộ gian giữa được bài trí tương tự như các điện thờ ở những lăng tẩm khác của triều Nguyễn với khám thờ, sập thờ, bàn thờ, kỷ thờ, án thờ chạm rồng và tứ linh, cùng nhiều đồ tự khí các loại. Trong khám thờ đặt bài vị của vua Tự Đức và Lệ Thiên Anh Hoàng hậu. Tại đây cũng còn lưu giữ nhiều kỷ vật của vua Tự Đức và các bà hậu, phi như gương soi, tráp, hộp, hai thêu, sách lụa... Irong các tú kính còn trưng bày các cổ vật gắn bó với vua Tự Đức, liên quan đến trò chơi cung đình như đầu hồ và đổ xăm hường. Đặc biệt là các bức tranh gương minh họa những bài thơ do vua Thiệu Trị ngự chế, khung tranh được thếp vàng và chạm trổ rất tinh xảo. Đây là số ít các bức tranh quý của nhà Nguyễn hiện còn được bảo lưu, do họa sĩ Trung Hoa thực hiện theo đơn đặt hàng của triều đình Huế.

Lương Khiêm

Điện Lương Khiêm Điện nằm ở phía sau điện Hòa Khiêm, là nơi vua Tự Đức nghỉ ngơi mỗi khi lên Khiêm Cung. Sau này điện được dùng để làm nơi thờ vọng mẹ vua là bà Thái hậu Từ Dũ. Cấu trúc điện là một tòa "nhà kép" 5 gian 2 chái, toàn bộ khung gỗ nội thất được quét một lớp sơn đen bóng, trong khi các khám thờ, sập thờ, bàn thờ, án thờ đều được sơn son, thếp vàng. Phía trong của gian giữa thiết khám thờ đặt chiếc ngai của bà Thái hậu Từ Dũ. Ngoài ra, trong điện còn đặt các chậu lung dựng cành vàng lá ngọc, trên các cột treo các bức tranh gương, các quạt lông và phất trần lông đuôi ngựa. Gian thứ hai bên trái tiền doanh có đặt một tấm bảng gỗ lớn sơn son, thếp vàng khắc bài văn mừng thọ cửu tuần (90 tuổi) của Thái hoàng Thái hậu Từ Dã vào năm Thành Thái thứ 11 (1899).

Minh Khiêm Đường

Minh Khiêm Đường là một trong những nhà hát cổ nhất Việt Nam, được xây dựng vào năm 1865. Với chức năng chính là nơi nhà vua nghe tấu nhạc và xem diễn tuồng, không gian nội thất của công trình này được thiết kế sáng tạo và mang tính thẩm mỹ cao.

Minh Khiêm Đường có vị trí nối tiếp giữa Hòa Khiêm Điện, Lương Khiêm Điện, Ôn Khiêm Đường, tạo thành một tổ hợp kiến trúc có mặt bằng hình chữ "khẩu", đây là lối kiến trúc đặc trưng của cung đình thời Nguyễn, phù hợp với thời tiết khí hậu khắt nghiệt của miền Trung. Với hệ thống hành lang liên thông giữa các tòa nhà tạo điều kiện đi lại thuận tiện khỏi mưa nắng. Ở giữa là một khoảng sân rộng hình chữ nhật, đặt chậu cảnh, vừa tạo không gian thoáng, vừa đem đủ ánh sáng cho các công trình. Thật là nơi thích hợp để nhà vua giải trí, tiêu sầu sau khi làm việc căng thẳng.

Nhà hát Minh Khiêm Đường là tòa nhà bằng gỗ có 3 gian 2 chái, làm theo kiểu nhà truyền thống Huế. Để đáp ứng yêu cầu cần có không gian rộng rãi cho sân khấu, các nhà kiến trúc đã giản lược bớt hai cột chính, và thay vào đó hai xuyên gỗ dài. Tuy nhiên, hiện nay nhà hát đã xuống cấp, để bảo tồn tạm thời nó được chống đỡ bằng hai cột gang. Về tổng thể bên trong nhà hát có ba phần chính gồm sân khấu chiếm không gian rộng nhất nằm chính giữa của tòa nhà, hai bên là vị trí của nhạc công, sau hai carm Phía trên trân cua sản khâu có bức hoành hấu có bức hoành Phi đề ba chữ "Minh Khiêm Đường" thiết kế trần nhà được trang trí hình ảnh .Cách mặt trời, vâng trăng khuyết, những dảm mây ngũ sắc và các vì tinh tú làm băng gương trang thuy bọc đong. Chính nhờ sự phản quang của gương đã tạo nên ánh sáng lung linh, sông động cho sân khấu khi nhà hát lên đèn. Tạo cho người diễn cũng như người xem cảm giác như đang ở ngoài trời, giữa cuộc đời. Chính vì thế Minh Khiêm Đường như một minh chứng phản ánh về chủ nhân của nó, một con người hâm mộ nghệ thuật, một tâm hồn lãng mạn thi sĩ. Bên cạnh đó các liên ba, thành vọng xung quanh sân khấu được chia ra thành từng ô hộc chạm nổi, chạm chim, chạm lọng một cách tỉ mỉ, công phu với những đồ án trang trí lấy từ các đề tài bát bửu, hồi văn chữ vạn, cùng những đường nét kỷ hà rất phong phú và đa dạng.

Ôn Khiêm Đường

Ôn Khiêm Đường là một tòa nhà 3 gian 2 chái kép, nguyên là nơi cất giữ các đồ ngự dụng của vua Tự Đức, về sau bà Lệ Thiên Anh Hoàng hậu lên ở tại đây nên đổi thành Ôn Khiêm Điện. Cả bốn mặt của tòa nhà đêu có hệ thống cửa bảng khoa thượng song hạ bản. Mái điện được lợp bằng ngói liệt tráng men xanh, giữa bờ nóc gắn hình bát quái; các đầu bờ nóc, bờ quyết đều đắp hình lá hóa giao bằng vữa. Đầu hồi được găn gạch hoa đúc rồng tráng men nhiều màu hình khánh đá, ở giữa có chữ "Thợ".

Khu vực Viện và Ích Khương Các

Vua Tự Đức có 103 người vợ, tại khu vực Khiêm Lăng nhà vua đã cho xây Chi Khiêm Đường để thờ các bà vợ của các vị vua tiền triêu và sau này thờ thêm những người vợ của minh. Đông thời, nhà vua cùng chu đáo dựng thêm bốn viện, bao gồm Tòng Khiêm Viện, Dụng Khiêm Viện, Y Khiêm Viện và Trì Khiêm Viện dành cho các phi tần của mình.

Theo lịch sử thì đây cũng là nơi trú chân của các bà trong "Tam cung Lục viện" sau sự biến Thất thủ Kinh đô (1885) dưới thời vua Hàm Nghi. Ích Khiêm Các là nơi nhà vua ngắm cánh, nằm ở phía sau điện Lương Khiêm, nhưng hiện đã bị sụp đổ. Bên trái phía sau khu này còn có vườn để nuôi hươu, nai.

LĂNG TỰ ĐỨC

Lăng mộ quay về hướng Đông Nam, xa xa phía trước là núi Dẫn Khiêm, Long Khiêm làm "tiền án", dưới chân núi là khe nước từ hướng chùa Từ Hiều chảy qua làm yếu tố "minh đường" trong phong thủy địa lý, ngay trước mặt lại có hồ Lưu Khiêm uốn thành hình bán nguyệt, bên kia hồ là một đồi đất nhỏ trồng thông để ngăn gió thối vào phía mộ nhà vua.

Bái Đình

Bái Đình là khu vực sân chầu nằm phía trước Bi Đình (nhà bia), sân Bái Đình được sắp xếp theo thứ tự ba tầng từ thấp lên cao. Trên tầng sân thứ hai của Bái Đình bài trí hai hàng tượng gồm: voi, ngựa và quan văn, quan võ, tương tự như các khu vực lăng tẩm khác của các vị vua triểu Nguyễn. Chính giữa tầng sân thứ ba là vị tri của Bì Đình. Chung quanh sân có xây tưởng thấp tựa giống như hệ thống lan can được chia thành nhiều ô hộc, trang trí các loại gạch hoa đúc rỗng tráng men với nhiều hình dạng khác nhau; phía trên lan can úp ngói ổng tráng men màu. Phía trong cùng của sân này có xây 2 trụ biểu ở hai bên. Bốn mặt của trụ biểu đều được gần gạch hoa đúc rồng tráng men vàng. Những ô hộc ở chân trụ biểu gắn gạch hoa rồng tráng men xanh và mảnh sành sứ thành các chữ "Thọ". Đỉnh trụ biểu được trang trí búp sen. Do hoàn cảnh chiến tranh và điều kiện kinh tế, nên mãi đến năm 1895 vua Thành Thái mới cho làm sân Bái Đình, dựng tượng các quan bằng đá và xây đắp các tượng voi, ngựa bằng vôi vữa.

Bi Đình

Bi Đình được xây bằng gạch trát vữa, bốn mặt đều trổ cửa vòm. Hai bên cửa vòm và ở các góc có xây nổi các trụ tròn, thon dần lên phía trên. Điểm đặc biệt của Bi Đình lăng vua Tự Đức chính là ở cách thiết kế và trang trí các trụ với các hình đắp nổi theo mô - típ mây tản và các cột tròn bên trên đắp hình rồng cuộn bằng vữa gắn sành sứ. Nối 4 cột này với tường là các vòm cuốn xây bằng gạch, ở giữa thông lên đến tầng thứ hai. Tầng trên mái cũng xây vòm cuốn. Tất cả đều có kích thước rất lớn, tạo dáng vững chãi, nhưng cũng rất thanh thoát với phần trên được thu gọn, vuốt nhỏ, vươn lên cao. Mái nhà bia được lợp băng ngói ống tráng men vàng, cuối mái có ngói câu đầu và trích thủy. Các bờ quyết được đắp cao, trên úp ngói ống, hai bên gắn gạch hoa đúc rỗng trang trí. Đầu bờ quyết phía trên đắp hình kỷ hà bằng vữa gắn sành sứ. Cuối bờ quyết gắn hình rồng pháp lam nhiều màu, bên dưới có các tầng lá cong lên, có gắn chuông gió bằng đồng ở bốn góc. Nền móng Bi Đình lát gạch Bát Tràng loại lớn, bó vỉa bằng đá Thanh. Mỗi mặt có một bậc cấp 2 bậc, thành bậc ở hai mặt trước sau đều chạm rồng, bậc cấp ở hai bên chạm mây hóa rồng. Ố vị trí trung tâm của Bi Đình là tấm bia lớn nhất Việt Nam, đặt trên một bệ đá cũng rất lớn chạm trố sắc sảo các chi tiết hồ phù, thao thiết, hoa cúc, bát bửu....

Bia Khiêm Cung Ký

Mặc dù vua có nhiều vợ, nhưng lại không có con kế nghiệp, nên vào năm 1871, vua Tự Đức đã tự tay soạn nội dung văn bia cho mình và đặt tên là "Khiêm Cung Ký" gồm 4.935 chữ Hán. Đến năm 1875 thì cho khắc vào hai mặt tấm bia đá Thanh hiện dựng tại Bì Đình. Năm 1881 xây dựng nhà bia.

"Khiêm Cung Ký" là tấm bia đá lớn nhất Việt nam, nó có giá trị trên nhiều lĩnh vực như kiến trúc, mỹ thuật, tư liệu lịch sử, văn học... Theo sách "Khâm định Đại Nam hội diễn sự lệ tục biên", để làm nên tấm bia này, Bộ Công phải điều động 1.000 biền binh ra tận núi Nhồi - Thanh Hóa để khai thác vận chuyển vào Huế và phải huy động hàng trăm thợ đá thay nhau chế tác. Bia đá này được thiết kể theo phong cách đặc trưng của bia ký thời Nguyễn. Tấm bia có trọng lượng 20 tần, chiều cao 4,07m, rộng 2,59cm. Trong đó, trán bia cao 0,97m, rộng 2,875m. Tai bia mỗi bên rộng 0,22m, chỗ dày nhất 0,48m. Hai mặt trên tấm bia khắc 4.935 chữ, mặt trước được khắc theo lối "Khải tự"; mặt sau khắc theo lối "Hành Khải tự, nét chữ khắc sắc xảo, thần thải uyển chuyển. Tấm bia được đặt trên để 1m, rộng 3,09m và dày 1,625m. Để bia được tạo từ một phiên đá Thanh nguyên khối với dáng chân quỳ và được chạm trỏ công phu. Mặt ngoài để bia chạm nổi và chạm lộng các đồ án như rồng mây, mặt hổ phù và hồi văn chữ S gấp khúc.

Khác với văn bia ở các lăng vị vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị là những văn bia do người con nối dõi soạn với nội dung thường ca ngợi tính tình, đức độ và công lao, sự nghiệp của vua cha, nên đều có tên gọi là bia "Thánh Đức Thần Công", còn bia Khiêm Cung Ký do chính vua Tự Đức tự soạn cho mình, nên tuy cũng là bài "ký" song lại có tên là "Khiêm Cung", và mang ý nghĩa như một bản tự kiểm điểm của nhà vua trước tông miếu xã tắc và thần dân trăm họ.

Nội ding Khiếm Cung Ký gồm 5 phần chính, có thể tóm tắt như sau

Phần 1: Mở đầu vua Tự Đức nói lên quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của mình, cũng như viết về thời tuổi trẻ của mình. Từ khi còn nhỏ vua đã thể hiện trí thông minh và biết ứng đối thơ phú, nên được vua cha rất thương yêu, chiếu cố nhiều hơn so với những người con khác và có ý định truyền ngôi. Tuy nhiên, sức khỏe của nhà vua không được tốt, lại bị bệnh đậu mùa lúc gần tuổi hai mươi.

Phần 2: Bày tỏ tâm tư của nhà vua trước một số biến cố quan trọng của đất nước và triều đình. Lên ngôi từ lúc còn quá trẻ, sức khỏe lại yếu, đất nước đứng trước nạn ngoại xâm. Việc nhà vua phải xử tội anh mình cũng là vì phải coi trọng việc nước. Vua bày tỏ thái độ bất bình trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp, việc để mất Nam Kỳ khiến dân chúng lầm than cũng là tội nhà vua phải gánh chịu. Trong hoàn cảnh bi quan không có chí khí, dù nhà vua muốn bảo vệ đất nước cũng chẳng giải quyết gì được. Nỗi lo lắng này đã khiến cho vua càng thêm suy sụp, phải tính chuyện xây dựng lăng.

Phần 3: Giải thích ý nghĩa của việc lựa chọn vị trí xây dựng Khiêm Lăng, như các yếu tố địa lý phong thủy và mối liên quan đến các công trình khác ở xung quanh như chùa Thiên Mụ, Văn Miếu, Xương Lăng (lăng vua Thiệu Trị), đàn tế Nam Giao. Nhà vua đặt tên cho toàn bộ khu vực này là Khiêm Cung, sau khi vua băng hà sẽ đổi là Khiêm Lăng. Vua giải thích ý nghĩa chữ "Khiêm" là kính là nhường, là khiêm tốn, đồng thời cũng là quẻ trong Kinh dịch "Địa Sơn Khiêm", nên các công trình đều mang chữ Khiêm. Các quan binh, thợ thuyền tham gia xây dựng lăng đều được trả công xứng đáng.

Phần 4: Thể hiện những nhận định về bản thân và một số quan điểm trong cuộc sống của nhà vua. Vua tự xét mình là người nhút nhát, ít thích giao thiệp, lại là người trọng đạo đức, tin tưởng đạo lý ở Trời, lấy lòng thành để đối phó muôn việc, dùng "Khiêm" để hoàn thành bồn phận.

Phần 5: Là phần kết, khẳng định đây là những nội dung bộc bạch tấm lòng của nhà vua và những suy nghĩ riêng của cá nhân vua, không chú trọng đến giá trị văn chương. Người đời sau nếu đọc không cảm thông được thì chớ lấy làm phiền. Cuối cùng, nhà vua nhận hết tội lỗi về mình trước quốc gia dân tộc và nhường lời lại cho các sử gia đời sau phán quyết.

Bia Khiêm Cung ký đã được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2015

Do tính chất quan trọng của di tích này nên nhiều dự án trùng tu đã được tiến hành. Dự án bảo tồn trùng tu và kết hợp đào tạo kỹ thuật tại công trình Bi Đình - lăng Tự Đức (năm 2013) với vốn tài trợ của Đại sứ quán Ba Lan tại Việt Nam là 840.014.920 VNĐ (tương đương 39.586 USD) và dự án bảo tồn trùng tu Bi Đình - lăng Tự Đức (2017 - 2019) của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế với tổng mức đầu tư là khoảng gần 2.500.000.000 đồng. Hiện nay công trình nhà bia đã hoàn chỉnh.

Bửu Thành và Huyền Cung

Sau nhà bia là hồ Tiểu Khiêm Trì, nơi chứa đựng nước mưa theo thuật phong thủy. Bửu Thành và Huyền Cung là nơi an táng thi hài của vua lự Đức. Bửu thành tọa lạc trên một quả đồi nhỏ gối đầu lên Lý Khiêm Sơn và xa hơn nữa là Cư Khiêm Sơn, đây chính là hai ngọn núi làm "hậu chẩm" của lăng vua Tự Đức. Ngay phía trước Bửu Thành là tầng sân có nền của ngôi nhà Hoàng ốc (nhà phú vải vàng để bài trí các hương án đặt lễ vật mỗi khi có cúng tế). Xung quanh tầng sân này có xây hàng lan can gạch rồng. Mặt trước có ba hệ thống bậc cấp và thành bậc làm bằng đá Thanh. Nền Hoàng ốc hình vuông, có 16 chân cột bằng đá, xung quanh chạm lá để, giữa có 1ố dựng cột. Hai bên sân có 2 dây bồn hoa hình bát giác trồng các loại cây cảnh.

Cống Bửu Thành được xây bằng gạch, trố cửa vòm, phía trên trang trí hình kỷ hà và ngũ phúc. Hai bên cũng được trang tri ô hộc gản gạch rồng men màu. Cửa có 2 tầng mái lợp ngói ống nhỏ, có câu đầu trích thủy như mái nhà, hai mặt gắn gạch róng trên bờ úp ngói ống. Bờ nóc đấp mở - típ lưỡng long triểu nguyệt. Đấu bờ quyết đắp hình lá, mái dưới bờ quyết đắp hình các con cá, góc gắn các chuông gió. Cửa vào Bửu Thành được làm bằng đóng, những thanh đồng thau vuông vẫn được đâu mộng hết sức chắc chắn, phía trước có hai then cài và khóa chốt. Ngày thường được khóa và niêm phong cần thận, mỗi khi có lễ thì phải có mặt đấy đủ Tam nha Hội đồng (Bộ Công, Bộ Lẻ, Ngự tiền Văn phòng) đến bóc niêm, mở khóa để mở cổng. Đây là nơi quan trọng nhất của lăng mộ nhà vua, nên lính hộ lăng canh trực đêm ngày.

Bửu Thành gồm hai lớp tường thành bao bọc xung quanh ngôi mộ của vua Tự Đức. Một bức bình phong lớn che phía trước cửa và bức thành trong (khu vực Huyền cung). Trụ ở hai bên cửa cũng được chia ô hộc gắn gạch hoa rỗng tráng men nhiều màu. Thân trụ dưới to, trên nhỏ, đỉnh trụ có đắp búp hoa sen bằng vữa. Trước Huyền cung có bức bình phong, ở giữa trang trí hình chữ "Thọ". Chính giữa sân là ngôi mộ của vua lự Đức được xây bằng đá Thanh theo kiểu nhà hai mái xuôi, đặt trên một nền đá cao 3 tấng. Đầu bờ nóc bờ quyết chạm hình rống nhỏ, đầu hồi chạm chữ "Thọ". Trước mộ đặt một bàn thờ nhỏ chạm chân quý chạm nồi "lưỡng long triểu nguyệt". Công cuộc bảo tồn trùng tu Bứu thành và bình phong khu mộ vua Tự Đức, kết hợp đào tạo kỹ thuật vào năm 2009 - 2010 do Bộ Ngoại giao Cộng Hòa Liên Bang Đức thông qua Hiệp hội Bảo tôn Di sản Văn hóa Đức và Nhóm GCREP thực hiện với khoản tài trợ trị giá 110.525 Euro.

LĂNG MỘ LỆ THIÊN ANH HOÀNG HẬU (KHIÊM THỌ LĂNG)

Qua cây cầu Tuần Khiêm là khu vực lăng mộ Lệ Thiên Anh Hoàng hậu, khu vực này vốn được dùng làm nơi tập băn, dựng nhà đọc sách, ngắm cảnh của nhà vua. Nếu xét về không gian văn hóa nguyên thủy của lăng vua Tự Đức, Khiêm Thọ Lăng và Bồi Lăng không phải là những yếu tố hình thành nên chỉnh thể không gian vườn cảnh nơi đây. Tuy nhiên do bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ, triều đình Nguyễn buộc phải dùng vị trí này làm nơi an nghỉ của Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (Khiêm Thọ Lăng) và vua Kiến Phúc (Bồi Lăng).

Kết cấu của Khiêm Thọ Lăng cũng gồm có các tầng sân và Bửu thành. Điều nổi bật trong khu vực này là hệ thống ô hộc được dùng gạch hoa đúc rỗng tráng nhiều màu men và mảnh sành sứ để trang trí, cùng nhiều mô - típ hoa lá, chim phụng, lân... Bình phong trước mộ hoàng hậu được làm theo kiểu cuốn thư đặt trên chân quỳ, ở giữa trang trí hai con chim phụng chầu quanh mặt trời (ở mặt trước) và hình chữ "Thọ" (ở mặt sau) được đắp bằng xi - măng gắn các mảnh sành sứ. Mộ của hoàng hậu cũng được làm bằng đá theo hình một ngôi nhà, trên chạm hình chim phụng và chữ "Thọ" .

Lệ Thiên Anh Hoàng hậu tên là Vũ Thị Duyên, bà sinh vào ngày 23 tháng 06 năm 1828, quê ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình. Cha bà là Đông các Đại học sĩ Lệ Quốc công Vũ Xuân Cẩn, mẹ là Lệ Quốc Phu nhân họ Trần. Lệ Thiên Anh Hoàng hậu là người có tính nhu mì, thông thạo thơ văn, chữ nghĩa và đảm đang việc nha. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) bà được tuyển vào cung hầu vua Tự Đức. Vốn tính đoan trang, hiếu thuận, nên bà rất được bà Từ Dũ và vua Tự Đức yêu quý. Năm 1848 vua Tự Đức lên ngôi tấn phong bà làm Cung tần theo lệ của triều đình. Sau đó bà lần lượt được tấn phong làm Cẩn phi, Thuần phi, Trung phi và trở thành Hoàng quý phi vào năm Tự Đức thứ 15 (1862).

Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, trước khi mất nhà vua di chiếu tôn bà làm Hoàng hậu trông coi Lục viện và nuôi dạy người kế vị là Hoàng tử Nguyễn Phúc Ung Chân (tức là vua Dục Đức). Vua Dục Đức lên ngôi mới 3 ngày thì bị hai quyền thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế truất, ám hại. Sau đó họ lại đưa Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi lấy niên hiệu là Hiệp Hòa, vua Hiệp Hòa đã tôn bà là Khiêm Hoàng hậu. Tháng 10 năm 1883 vua Hiệp Hòa cũng bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sai người giết chết, và đưa Nguyễn Phúc Ung Đăng lên thay, lấy niên hiệu là Kiến Phúc. Tháng 06 năm 1884 vua Kiền Phúc đột ngột băng hà. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tôn Hàm Nghi lên thay. Tháng 03 năm 1885 vua Hàm Nghi tấn phong Nghi Thiên Chương Thái hoàng thái hậu cho bà Từ Dũ, nhân đó nhà vua cũng muốn xin tôn phong hiệu cho Khiêm Hoàng thái hậu như đúng lẽ cho bà nhưng bà không nhận.

Những biến cố lịch sử của Vương triều và Đất Nước

Khi Pháp đánh chiếm Kinh thành Huế năm 1885, vua Hàm Nghi phải xuất bôn ra Quáng Trị, bà cùng tam Cung, Lục Viện đi theo, sau đó Tam Cung về ngự ở tại Khiêm Lắng. Đến khi vua Đồng Khánh kế vị, quân đội Pháp trao trả lại Kinh thành Huế cho triều đình nhà Nguyễn thì Tam Cung quay trở về lại Kinh thành. Bà trở lại cung Trường Ninh (về sau đổi tên là cung Trường Sanh) trong Hoàng thành Huế. Năm Thành Thái thứ 14 (1902), vào ngày 27 tháng 04 năm Nhâm Dần (tức ngày 03 tháng 06 dương lịch), Bà lúc này là Thái hoàng thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi; được dâng thụy hiệu là: "Lệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tình Thọ Anh Hoàng hậu", thường gọi tắt là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu. Vua Thành Thái nhớ ơn bà chăm sóc cha mình (vua Dục Đức) nên tổ chức làm lễ tang long trọng và cho xây lăng bà tại dây vào năm 1902, đặt tên là Khiêm Thọ Lăng.

LĂNG MỘ VUA KIẾN PHÚC (BỒI LĂNG)

Khu vực Bồi Lăng bao gồm lăng mộ vua Kiến Phúc, điện Chấp Khiêm và các công trình kiến trúc phối thuộc. Tất cả cùng năm trên một quả đồi, nguyên là nơi hóng mát và ngăm cảnh của vua Tự Đức. Đến năm 1884, khi vua Kiến Phúc băng hà, triểu đình mới cho làm lăng này (nằm bên trái Chấp Khiêm Điện) và đưa thi hài của nhà vua đến đây an táng.

Chấp Khiêm Điện vốn là nhà đọc sách của vua, được làm theo kiểu nhà kép "trùng lương trùng thiềm" nhưng kiểu thức rất đơn giản. Sau khi vua Tự Đức băng hà, nơi đây trở thành điện thờ bài vị vua Kiến Phúc. Phía sau Chấp Khiêm Điện là vị trí của Di Khiêm Lâu, có lối kiến trúc rất giống Minh Lâu ở lăng Minh Mạng là nơi nhà vua đến ngăm cảnh, hóng mát. Rất tiếc công trình hiện nay chỉ còn nền móng.

Vua Kiến Phúc là vị Hoàng đế thứ 7 của triều Nguyễn, con thứ ba của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Húy của vua là Nguyễn Phước Ung Đăng hiệu Dưỡng Thiện. Vua Kiến Phúc sinh ngày 12 tháng 02 năm 1869, lên ngôi ngày 02/12/1883, tuy nhiên tại vị được 08 tháng thì băng hà vào ngày 31/07/1884, được truy tôn miếu hiệu là: Giản Tông Nghị Hoàng đế.

Vua Kiến Phúc là vị vua yểu mệnh nhất của triều đại nhà Nguyễn, lúc băng hà chỉ mới 15 tuổi. Vì không có con nên vua Tự Đức đã nhận ba người cháu làm con nuôi: Nguyễn Phúc Ưng Ái, Nguyễn Phúc Ung Kỷ và Nguyễn Phúc Ung Đăng. Ung Đăng được vua Tự Đức truyền đem vào cung giao cho bà Học phi Nguyễn Thị Hương nuôi dạy từ lúc mới 2 tuổi.

Sau khi vua Dục Đức và Hiệp Hòa đều mất, Hoàng tử Ung Đăng được hai quan Phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi lấy niên hiệu là Kiến Phúc và mọi việc trong triều đều do hai quan Phụ chính quyết dinh. Lúc bấy giờ ở Bắc Kỳ lực lượng của Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản đang còn phối hợp với quân nhà Thanh chống quân Pháp. Viên Khâm sứ Pháp ở Huế lấy điều đó ra trách cứ, khiến triều đình có dụ truyền cho hai viên tướng ấy phải về Kinh. Nhân nhượng như vậy, nhưng ít lâu sau quân Pháp vẫn tiến đánh và chiếm đoạt các tỉnh là Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa và Tuyên Quang. Đến ngày 06 tháng 06 năm 1884, đại diện Pháp Jules Patenôtre ký tờ hòa ước mới với triều đình nhà Nguyễn, đó là Hòa ước Giáp Thân (năm 1884) công nhận sự bảo hộ của Pháp và chia nước Việt Nam ra làm 3 kỳ, đó là Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Trong khi đất nước gặp nhiều rối ren như vậy thì vua Kiên Phúc băng hà.

Lăng vua Tự Đức không chỉ là nơi chứng kiến những trăn trở của vị vua trị vì đất nước lâu nhất trong lịch sử triều đại (từ 1848 - 1883), mà còn phải chứng kiến sự kiện bi thương nhất của triều Nguyễn: khi thi hài của vua Tự Đức an táng chưa đầy một năm, ngày mồng 02 tháng 12 năm Quý Mùi (30/12/1883), triều đình lại tiếp tục chọn đất làm huyệt mộ để an táng tiếp vị vua thứ hai trong khu vực này, đó là vua Kiến Phúc, ngày mồng 01 tháng 10 năm 1884 (tức ngày 13 tháng 08 năm Giáp Thân) và cho tu sửa điện Chấp Khiêm làm nơi thờ tự. Cũng trong thời gian ấy, xã hội Việt Nam, triều đình Huế trải qua một giai đoạn khủng hoảng trầm trọng khi chỉ trong vòng bốn tháng, từ tháng 06 đến tháng 10 năm Quý Mùi (1883) lần lượt có đến ba vị vua ngồi lên ngai vàng để rồi rơi vào kết cục bi thảm. Cũng từ đây mà trong dân gian tuyên truyền câu đối:

"Nhất giang lưỡng quốc ngôn nan thuyết

Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường"

(Một dòng sông tồn tại hai nước, lời khó nói / Chỉ bốn tháng có đến ba vua, điểm chẳng lành).

Giá trị kiến trúc, nghệ thuật lăng vua Tự Đức

Với những đặc điểm vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính cá biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của triều Nguyễn, lăng vua Tự Đức là sự kết hợp nhuấn nhuyễn giữa kiến trúc và cảnh quan. Bản thân nhà vua là một người có trình độ học vấn uyên thâm, là một nhà văn, nhà thơ có tâm hồn lãng mạn, nên khi chọn đất xây dựng vua đã chọn một thung lũng hẹp, một nơi có đủ cả đất băng, có núi, có khe, để rồi các nhà kiến trúc đã dựa theo ý chỉ của vua, sắp xếp, bố trí các công trình, đặt nó trên những bình độ cao thấp khác nhau, hòa quyện nó vào phong cảnh thiên nhiên. Ở đây có thông reo, suối chảy, có hồ, có đình, có tạ, có những tòa điện thâm nghiêm..., tất cả đều hòa quyện vào nhau, Điều này vừa thể hiện tâm hồn của một ông vua thi sĩ, vừa thể hiện sự sáng tạo và trình độ xây dựng cao của người Việt Nam vào thời kỳ này. Các họa tiết hay hoa văn trang trí trên các công trình kiến trúc dưới nhiêu dạng chất liệu khác nhau là kết tinh của trình độ thẩm mỹ và quan niệm nhân sinh quan, vũ trụ quan của người đương thời.

Lăng vua Tự Đức cũng là một bảo tàng, nơi gìn giữ các vật dụng và đồ tự khí thời Nguyễn, thể hiện đời sống vật chất và tinh thần của tầng lớp quý tộc nhà Nguyễn vào nửa cuối thế kỷ XIX. Đặc biệt là khi tình hình chính trị - kinh tế - xã hội Việt Nam đang bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Mặt khác, với những quy chế, điển lệ khắt khe, lăng vua Tự Đức cũng là nơi thể hiện quyền lực của triều đại, kể từ khi Việt Nam chưa hoàn toàn rơi vào tay Pháp cho đến khi bị mất hết chủ quyền. Với tất cả những hàm lượng văn hóa được chứa chất trong đó, lăng vua Tự Đức thực sự có giá trị nối bật và xứng đáng là di sản văn hóa của nhân loại, là di sản của dân tộc, mà chúng ta đang kế thừa, gìn giữ để truyền lại cho muôn đời sau.

Hành trình tham quan, Tour Đà Nẵng – Huế gắn với lăng tẩm và Hoàng thành Đối với những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về không gian văn hóa và tư tưởng của triều Nguyễn, hành trình từ Đà Nẵng đến Huế thường được lựa chọn như một tuyến khám phá liền mạch giữa cảnh quan và lịch sử. Các chuyến đi này không chỉ đưa du khách đến với Đại Nội Huế – trung tâm quyền lực của vương triều, mà còn kết nối những công trình lăng tẩm tiêu biểu, nơi phản ánh rõ nét cá tính và quan niệm sống của từng vị vua. Trong đó, Lăng Tự Đức thường là điểm dừng gây nhiều suy ngẫm nhất bởi sự hòa quyện giữa kiến trúc và thiên nhiên, mang dáng dấp của một chốn nghỉ ngơi hơn là lăng mộ thuần túy. Hành trình cũng có thể kết hợp tham quan Lăng Minh Mạng với bố cục nghiêm cẩn, đăng đối, hay Lăng Khải Định – công trình mang dấu ấn giao thoa Đông – Tây rõ rệt trong giai đoạn cuối triều Nguyễn. Trên đường từ Đà Nẵng ra Huế, cung đường Đèo Hải Vân mở ra khung cảnh núi non – biển cả hùng vĩ, cùng những điểm dừng như Vịnh Lăng Cô, Chùa Thiên Mụ và trải nghiệm không gian tĩnh lặng bên Sông Hương. Tùy thời gian, hành trình có thể diễn ra trong một ngày hoặc kéo dài hơn, mở rộng thêm các điểm di sản lân cận, để chuyến đi trở thành một quá trình chiêm nghiệm về lịch sử, cảnh quan và chiều sâu văn hóa của cố đô Huế.

Các bài viết khác

Bà Nà Hills

Tất Tần Tật 95 Địa Điểm Du Lịch Đà Nẵng – Hội An – Quảng Nam 2026: Đi Đâu, Chơi Gì, Ăn Gì

Khám phá 95 địa điểm du lịch Đà Nẵng, Hội An và Quảng Nam năm 2026, được chọn lọc, loại bỏ nội dung trùng lặp và sắp xếp theo từng nhóm trải nghiệm: biểu tượng sông Hàn và những cây cầu, khu vui chơi – nghỉ dưỡng, biển đảo, di sản – bảo tàng – tâm linh, làng nghề, núi rừng – sinh thái, chợ, ẩm thực và phố đêm. Mỗi địa điểm đều có mô tả, từ khóa liên quan, lưu ý tham quan và gợi ý kết hợp tuyến đường, giúp du khách dễ dàng lựa chọn điểm đến, xây dựng lịch trình và tải cẩm nang PDF để tham khảo. Nội dung được biên tập bởi Công ty Du lịch Bản Địa Đà Nẵng – Da Nang Local Tourism, đơn vị chuyên Tour Local Đà Nẵng, Hội An, Huế. Tư vấn hành trình: 0818 433 579.

Cổng Trời Đông Giang: Điểm Đại Ngàn Cách Đà Nẵng Chỉ 2 Giờ

Cổng Trời Đông Giang: Điểm Đến Đại Ngàn Cách Đà Nẵng Chỉ 2 Giờ

Chỉ cách trung tâm Đà Nẵng khoảng hai giờ chạy xe, Cổng Trời Đông Giang mở ra một thế giới hoàn toàn khác với phố biển quen thuộc: rừng Trường Sơn xanh thẳm, thác nước len qua đá núi, hang động kỳ bí và những khoảng rừng Bòn Bon mát lành. Càng đi sâu vào bên trong, du khách càng cảm nhận rõ vẻ nguyên sơ của đại ngàn và những lớp văn hóa Cơ Tu còn hiện diện trong nhà Gươl, hoa văn gỗ, nghề truyền thống và các dấu tích được gìn giữ giữa rừng. Đây không chỉ là nơi để check-in, mà còn là hành trình để chậm lại, nghe tiếng nước chảy, hít đầy lồng ngực mùi cây rừng và nhận ra rằng một miền núi rất khác của Đà Nẵng đang ở gần hơn ta tưởng. Nếu bạn đang tìm một điểm đến vừa đủ gần cho cuối tuần nhưng đủ sâu để mang lại cảm giác “đi thật xa”, Đông Giang là một lựa chọn rất đáng để bắt đầu.

Đỉnh bàn cờ sớm mai

Sơn Trà Đà Nẵng có gì? Cẩm nang đầy đủ về điểm tham quan, cung đường và trải nghiệm

Bán đảo Sơn Trà là biểu tượng thiên nhiên của Đà Nẵng, nơi rừng nguyên sinh, biển xanh và văn hóa bản địa hòa quyện trong cùng một không gian. Không chỉ nổi tiếng với Vọoc Chà Vá chân nâu, Sơn Trà còn sở hữu những cung đường tuyệt đẹp, các điểm tham quan nổi tiếng như Chùa Linh Ứng, Đỉnh Bàn Cờ, Cây Đa Ngàn Năm, Mũi Nghê, Ghềnh Bàng, Hải đăng Tiên Sa và nhiều trải nghiệm khám phá hấp dẫn. Cẩm nang này sẽ giúp bạn khám phá toàn diện vẻ đẹp của bán đảo Sơn Trà, từ thiên nhiên, lịch sử, văn hóa, hệ sinh thái đến những kinh nghiệm và tuyến tham quan được người bản địa yêu thích nhất.

Động Huyền Không

Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng – Hành trình khám phá di sản từ góc nhìn người bản địa

Có những nơi chỉ cần một giờ tham quan là đủ để chụp vài bức ảnh rồi rời đi. Nhưng cũng có những nơi càng bước chậm, người ta càng khám phá thêm nhiều lớp ký ức của lịch sử và văn hóa. Ngũ Hành Sơn là một nơi như vậy. Giữa thành phố Đà Nẵng hiện đại, sáu ngọn núi đá cẩm thạch vẫn lặng lẽ đứng bên biển Đông suốt hàng triệu năm. Trong lòng núi là những hang động kỳ vĩ, những ngôi chùa cổ, dấu tích của văn hóa Chăm Pa, những chuyến ngự giá của các vua triều Nguyễn và biết bao câu chuyện được người dân địa phương gìn giữ qua nhiều thế hệ. Bài viết này không chỉ đưa bạn đi tham quan Ngũ Hành Sơn, mà còn cùng bạn khám phá từng lớp di sản, từ thiên nhiên, lịch sử, tín ngưỡng đến đời sống của những con người đã gắn bó với vùng đất Non Nước suốt nhiều thế kỷ.

Pháo hoa bên sông Hàn

Sông Hàn - Dòng sông kể câu chuyện tuổi trẻ của Đà Nẵng

Nếu khu vực hạ lưu sông Hàn mang nhịp sống sôi động, náo nhiệt của một đô thị trẻ, thì khi ngược dòng về phía cầu Trần Thị Lý và Nguyễn Văn Trỗi, dòng sông như chậm lại để kể những câu chuyện rất khác. Hãy cùng bước lên chuyến hành trình xuôi dòng Hàn Giang, nơi quá khứ và tương lai cùng soi bóng, để lắng nghe câu chuyện về tuổi trẻ, ký ức và khát vọng của mảnh đất Đà Thành qua những nhịp cầu di sản.

Cầu tình yêu

Cầu Rồng – Cầu Tình Yêu Đà Nẵng: Điểm đến lãng mạn bên Sông Hàn

Giữa nhịp sống trẻ trung của Đà Nẵng, nơi dòng sông Hàn lững lờ trôi qua bao mùa nắng gió, có một điểm hẹn luôn khiến du khách dừng lại thật lâu để cảm nhận vẻ đẹp dịu dàng của thành phố biển. Cầu Rồng – Cầu Tình Yêu – Tượng Cá Chép Hóa Rồng không chỉ là những công trình nổi tiếng, mà còn là nơi cảm xúc thăng hoa, nơi lời ca “Cầu tình yêu, nơi lứa đôi tìm về” trở nên thật gần gũi. Vừa hiện đại vừa thơ mộng, nơi đây là biểu tượng cho khát vọng hóa rồng, cho tình yêu nồng nàn và cho hành trình trải nghiệm trọn vẹn tại Đà Nẵng.

Khu A Mỹ Sơn

Khám phá Khu A Thánh địa Mỹ Sơn – Trung tâm linh thiêng của Vương quốc Champa để chạm vào kỷ vật ngàn năm

Có những chuyến đi không chỉ đưa bạn đến một địa danh, mà còn mở ra cánh cửa bước vào dòng chảy của lịch sử. Tour Đà Nẵng Mỹ Sơn là một hành trình như vậy. Chỉ cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 68 km, Thánh địa Mỹ Sơn đưa du khách trở về với không gian linh thiêng của Vương quốc Champa, nơi những đền tháp cổ kính, bia ký hàng nghìn năm tuổi và các tác phẩm điêu khắc tinh xảo vẫn kể lại câu chuyện về một nền văn minh từng rực rỡ ở miền Trung Việt Nam.

Tháp Mỹ Sơn

Biểu tượng Sư tử, Linga và Mặt nạ đất nung tại Thánh địa Mỹ Sơn – Nghệ thuật và tín ngưỡng Champa

Khám phá, tìm hiểu về hệ thống biểu tượng sư tử, Linga và mặt nạ đất nung tại Khu A Thánh địa Mỹ Sơn. Phân tích giá trị khảo cổ, nghệ thuật, tín ngưỡng Shiva giáo và triết lý của nền văn minh Champa.

Điện Minh Thành trong Lăng Gia Long

Lăng Gia Long: Bí ẩn phong thủy & Giai thoại linh thiêng Vua khai triều

Khám phá Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng) – nơi an nghỉ của vị vua đầu triều Nguyễn. Tìm hiểu kiến trúc phong thủy bậc nhất, câu chuyện mộ song táng cảm động và những giai thoại linh thiêng truyền kỳ trong dân gian. Cập nhật giá vé và đường đi mới nhất 2025.

Bà Nà Hills

Bà Nà Hills - Lần đầu chạm ngõ Châu Âu trên đỉnh núi Chúa

Bà Nà Hills từ lâu đã là cái tên quen thuộc trên bản đồ du lịch Đà Nẵng, nhưng chỉ khi trực tiếp đặt chân đến đây, tôi mới thật sự hiểu vì sao nơi này luôn nằm trong danh sách “phải đi một lần trong đời”. Trong chuyến đi 1 ngày cùng Công ty Du lịch Đà Nẵng Thăng Long, xuất phát từ Đà Nẵng vào buổi sáng sớm, tôi có cơ hội trải nghiệm trọn vẹn những điểm nổi bật nhất của khu du lịch nổi tiếng này.