Xem ngay: Lăng Vua Gia Long (Thiên Thọ Lăng) — Cùng Công ty Du Lịch Đà Nẵng Thăng Long tham quan, tìm hiểu và khám phá sự uy nghiêm của cụm Lăng Thiên Thọ.
📌 Tóm tắt nghiên cứu: Lăng Thiên Thọ (Lăng Gia Long) là nơi an nghỉ của Hoàng đế Gia Long – vị vua khai triều lập nên nhà Nguyễn và đặt quốc hiệu Việt Nam. Đây là kiệt tác kiến trúc phong thủy hòa quyện với đại ngàn, nổi tiếng với thế đất "vạn năm tốt lành" gồm 42 ngọn núi chầu về cùng ngôi mộ song táng sắt son độc đáo của Vua và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.
Trong quần thể di tích Cố đô Huế, nếu Đại Nội là biểu tượng của quyền lực lộng lẫy, thì Lăng Thiên Thọ (Lăng Gia Long) lại là một "bản hùng ca" tĩnh lặng giữa núi rừng đại ngàn. Đây không chỉ là nơi yên nghỉ của bậc thiên tử đầu tiên đặt nền móng cho triều đại nhà Nguyễn, mà còn là điểm đến linh thiêng bậc nhất, nơi mà mỗi tấc đất, ngọn cỏ đều mang hơi thở của lịch sử và những giai thoại huyền bí.
Tại Sao Bạn Nhất Định Phải Đặt Chân Đến Đây Một Lần Trong Đời?
- Vị thế Vua Khai Triều: Là lăng tẩm của Hoàng đế Gia Long – vị vua lập nên triều vương Nguyễn, người đặt tên quốc hiệu Việt Nam. Đến đây là để chạm tay vào cội nguồn của một triều đại rực rỡ kéo dài 143 năm.
- Kiệt tác kiến trúc phong thủy: Không xa hoa gạch đá như các lăng về sau, Lăng Thiên Thọ là sự hòa quyện tuyệt mỹ giữa bàn tay con người và thiên nhiên hùng vĩ. Với thế "Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ" và 42 ngọn núi chầu về, nơi đây được coi là mảnh đất "vạn năm tốt lành", mang vẻ đẹp phóng khoáng, uy nghiêm mà không một lăng tẩm nào có được.
- Sự linh thiêng và tình nghĩa sắt son: Người đời vẫn truyền tai nhau về sự linh ứng của khu lăng mộ và câu chuyện cảm động về ngôi mộ "song táng" – nơi nhà vua và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu nằm kề cận bên nhau suốt hơn hai thế kỷ, minh chứng cho một tình yêu vĩnh cửu giữa chốn cung đình.
Hãy cùng Đà Nẵng Local Tour rẽ lối đại ngàn, vượt qua cầu Hữu Trạch để giải mã những bí ẩn và cảm nhận sự bình yên đến lạ kỳ tại thánh địa linh thiêng này.
Lăng Gia Long & Hành Trình Lập Triều Nhà Nguyễn
Hoàng đế Gia Long tên húy là Nguyễn Phúc Ánh, là con trai thứ ba của chúa Nguyễn Phúc Côn và bà Nguyễn Thị Hoàn. Ông sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (08/02/1762). Trong suốt những năm nội chiến với quân Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh đã nỗ lực xây dựng chính quyền, phát triển kinh tế, mở mang giáo dục khoa cử, đặc biệt thu dùng nhân tài người Việt và Minh hương.
Cũng trong thời gian này, với sự giúp đỡ về kỹ thuật quân sự của một số người Pháp, Nguyễn Phúc Ánh đã cho xây thành Gia Định (1790), mở xưởng đóng tàu, xây dựng lực lượng thủy quân hùng mạnh, khai hoang mở đất, lập đồn điền, chiêu tụ dân ly tán. Đặc biệt, trong hành trình gian nan tìm kiếm sự giúp đỡ của lực lượng bên ngoài nhằm khôi phục lại cơ nghiệp của dòng tộc, Nguyễn Phúc Ánh đã đưa con trai trưởng của mình là Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh làm con tin để ký hiệp ước với Chính phủ Pháp (1787). Khi việc thực hiện hiệp ước Versailles không thành, Nguyễn Phúc Ánh vẫn kiên trì theo đuổi ý chí và đó là sức mạnh để ông giành thắng lợi toàn cuộc.
Vua Gia Long - Vị Vua Sáng Lập Triều Nguyễn
Kế tục dòng dõi các chúa Nguyễn, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn (1778 - 1801), tháng 06 năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế và đặt niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Năm 1803, vua Gia Long cho tiến hành khảo sát địa thế, chọn vị trí xây Kinh đô tại vùng đất bờ Bắc Sông Hương bao gồm phần của 8 làng cùng một phần sông Bạch Yến và Kim Long.
Kinh thành Huế được khởi công xây dựng vào năm 1805, hoàn chỉnh vào năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng. Chu vi hơn 10.000m, thành cao 6,6m, dày 21m được xây khúc khuỷu với 24 pháo đài, giác bảo, thành phụ Trấn Bình Đài cùng vòng đai bảo vệ bên ngoài là Hộ thành hà, hào, thành giai, phòng lộ... tạo nên hệ thống bố phòng quân sự vững chắc. Chịu ảnh hưởng của hai dòng kiến trúc Âu - Á, Kinh thành Huế là công trình xây dựng đồ sộ, là một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật độc đáo thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới năm 1993.
Trong gần 18 năm trị vì (1802 - 1820), là vị hoàng đế sáng lập nên triều Nguyễn, vua Gia Long không chỉ là người thống nhất đất nước trên bình diện lãnh thổ, kiện toàn bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, mà còn đặt nền móng cho việc phát triển kinh tế, luật pháp, văn hóa, xã hội..., bằng nhiều hoạt động và chính sách cụ thể; đặc biệt là việc quy hoạch xây dựng Kinh đô Huế từ năm 1803 và xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1804, dưới triều vua Gia Long, quốc hiệu Việt Nam chính thức được xác nhận trên bản đồ khu vực và văn bản hành chính nhà nước.
Gia Long là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam cai quản một đất nước thống nhất từ Bắc vào Nam. Để tiện quản lý và điều hành một quốc gia rộng lớn, ông đã cho tổ chức bộ máy chính quyền trung ương tương tự như các triều đại trước với cơ cấu Lục bộ (bao gồm: bộ Lại, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Công).
Về mặt hành chính, do quá trình chia cắt đất nước lâu dài, các vùng có sự phân chia hành chính khá khác nhau nên vua Gia Long đã cho áp dụng chế độ "quân quản", chia đất nước làm nhiều vùng miền: miền Bắc, miền Nam, vùng Trung kỳ và Kinh kỳ cho tiện quản lý. Bắc Thành và Gia Định Thành giao cho hai quan Tổng trấn đứng đầu nắm toàn quyền về luật pháp, kinh tế lẫn quân sự. Hai vùng miền Trung và Kinh kỳ do chính quyền trung ương trực tiếp quản lý. Các Trấn - Dinh (tương đương Tỉnh sau này) do quan Lưu Trấn quản lý. Dưới Trấn - Dinh là Phủ, Huyện, Châu (dùng cho vùng miền núi) với các vị quan đứng đầu lần lượt là Tri Phủ, Tri Huyện, Tri Châu. Cuối cùng là bộ máy làng xã cổ truyền.
Đây là lần đầu tiên bộ máy hành chính được tổ chức một cách chính quy như thế trên một lãnh thổ thống nhất trong lịch sử Việt Nam. Bộ máy hành chính do vua Gia Long xây dựng đã hoạt động rất tốt, quản lý có hiệu lực một quốc gia thống nhất. Cách thức tổ chức bộ máy hành chính linh hoạt, phù hợp với những năm đầu mới thống nhất đất nước dưới thời Gia Long đã đặt được nền móng vững chắc cho chế độ cai trị của triều Nguyễn về sau. Đây chính là thời kỳ quá độ, để sau này hoàng đế Minh Mạng tiếp tục kế thừa, tiến hành dân sự hóa bộ máy hành chính, tập trung quyền lực cao nhất cho trung tâm chính trị ở Kinh đô Huế.
Quần Thể Lăng Thiên Thọ
Cụm di tích lăng vua Gia Long tọa lạc tại thôn Định Môn, xã Hương Thọ, thành phố Huế, là nơi yên nghỉ của vua Gia Long cùng hai Hoàng hậu và một số thành viên hoàng tộc nhà Nguyễn, được xây dựng từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX. Hai đại thần Phạm Như Đăng và thầy địa lý nổi tiếng Lê Duy Thanh (con trai của nhà bác học Lê Quý Đôn) nhận nhiệm vụ đi tìm cuộc đất tốt để xây dựng.
Xung quanh cụm lăng mộ này có 4 ngọn núi chầu vào, mỗi ngọn đều được đặt một tên riêng. Đích thân vua Gia Long đã thám sát, duyệt định vị trí, quy hoạch, chỉ đạo công tác thiết kế, cũng như giám sát tiến độ thi công. Thầy địa lý Lê Duy Thanh là người tìm được cuộc đất này, nơi tập trung được mọi ảnh hưởng tốt lành tỏa ra từ nhiều núi đồi bao quanh, ảnh hưởng tốt lành còn mãi mãi trong suốt vạn năm.
Sự kết hợp khéo léo, hài hòa giữa thiên nhiên hùng vĩ với những nét đặc trưng của kiến trúc lăng mộ thời Nguyễn khiến các cụm di tích lăng Hoàng đế Gia Long không chỉ hội đủ các yếu tố phong thủy mà còn có cảnh quan vô cùng hoành tráng và hữu tình.
1. LĂNG QUANG HƯNG
Lăng Quang Hưng là lăng của bà Tống Thị Đôi, vợ thứ của chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687). Bà là con gái quan Thiếu phó Quận công Tống Phúc Khang và bà họ Phạm, quê ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Lăng được xây dựng vào năm 1680, tọa lạc trên một ngọn đồi, quay mặt về phía Tây Nam (tọa Dần hướng Thân), có kiến trúc khá đơn giản, phần mộ được xây thành hai cấp, chung quanh được bao bọc bằng hai vòng thành hình chữ nhật.
Trước lối đi là một tấm bình phong xây bằng gạch chỉ hình cuốn thư, không trang trí họa tiết. Cửa xây theo lối mái giả, các mặt trang trí một cách đơn giản bằng kiểu ô lòng giếng. Mặt sau của cả hai vòng thành đều xây bình phong cao lên. Năm 1808, vua Gia Long đã cho sửa sang lại. Năm 1840, vua Minh Mạng cho xây các vòng thành xung quanh cao hơn trước như chúng ta đang thấy ngày nay.
2. LĂNG VĨNH MẬU
Lăng Vĩnh Mậu là lăng của bà Tống Thị Lãnh, vợ chúa Nguyễn Phúc Trăn/Thái (1687 - 1691). Bà Tống Thị Lãnh quê ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, bà là con gái quan Thiếu phó Quận công Tống Phúc Vinh, mẹ họ Lê. Bà sinh năm Quý Tỵ (1653) và mất ngày 25 tháng 03 năm Bính Tý (25/03/1696). Bà được phong tặng là Quốc thái Phu nhân, là mẹ của chúa Nguyễn Phúc Chu.
Lăng Vĩnh Mậu nằm trên một ngọn đồi và được bao bọc bởi hai vòng thành hình chữ nhật ở xung quanh. Lăng quay mặt về phía Tây (lệch qua hướng Bắc 10°), lấy núi Kim Phụng làm tiền án. Kiến trúc của lăng khá đơn giản, phần mộ được xây thành hai cấp, trước mộ xây một hương án khá lớn, xung quanh khu mộ có hai vòng thành và có bình phong che chắn.
Lăng Vĩnh Mậu cũng đã bị nhà Tây Sơn đào bới và đã được làm lại vào tháng 4 năm 1808 dưới thời vua Gia Long. Vào năm 1840, vua Minh Mạng lại cho sửa sang và xây bình phong cao hơn trước, đồng thời cho xây thêm chiếc cổng ở trước thành như hiện nay.
3. LĂNG TRƯỜNG PHONG
Là lăng của chúa Nguyễn Phúc Trú/ Thụ (1697 - 1738), hiệu là Ninh Vương, con trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chu và bà Tống Thị Được. Lăng nằm trên một ngọn đồi thấp, quay mặt về hướng Bắc, phía trước có một khe nước chảy qua gọi là khe Trường Phong. Đây là yếu tố phong thủy quan trọng cho khu lăng mộ nên không được phép để dòng nước bị ngăn chặn. Khi bị xâm phạm về mặt phong thủy, không chỉ các quan địa phương mà các quan tỉnh cũng bị trừng phạt.
Điều này đã từng xảy ra vào tháng 07 năm 1843. Bấy giờ nông dân làng Kim Ngọc có xin phép các quan ở phủ Thừa Thiên cho đắp một đoạn của khe này để dẫn nước vào ruộng. Các quan Tôn Thất Cung, Vũ Đức Phu và Đinh Doãn Trung đã cho phép làm, nhưng không hỏi ý kiến của triều đình. Việc này sau đó bị phát giác, vua Thiệu Trị liền sai Bộ Lễ cùng Khâm Thiên Giám đi điều tra thực tế và vẽ bản đồ dâng lên cho vua xem.
Nhà vua nói: "Khe nước ấy từ núi Nhuệ Sơn đổ lại, theo bên hữu lăng Trường Phong ôm vòng về đằng trước, lại cùng các đường thủy hạ lưu của các tôn lăng, hợp làm một dòng, chảy rót về bên tả, thế nước chầu về rất là quý cách. Vả lại, đường thủy ở sơn lăng cốt phải cho lưu thông, không được đắp đê ngăn chặn ngang từng chỗ...". Sau đó các quan tỉnh nói trên bị triều đình phạt mỗi người mất 06 tháng lương.
Kiến trúc của lăng được bao bọc bằng hai vòng thành hình chữ nhật, phía trước có xây bình phong, giữa mặt trước có xây một cái cửa, trước cửa có xây tam cấp để đi xuống một cái sân dài 28m, rộng 7,50m, rồi đến một hệ thống tầng cấp gồm 18 bậc. Khu lăng mộ này cũng đã bị nhà Tây Sơn đào phá, nên sau này được vua Gia Long cho xây lại vào tháng 04/1808; sau này vua Thiệu Trị cho sửa sang thêm vào năm 1841.
4. LĂNG THOẠI THÁNH
Lăng Thoại Thánh là lăng của thân mẫu vua Gia Long, bà Hiếu Khương Hoàng hậu (mất năm 1811). Hiếu Khương Hoàng hậu tên thật là Nguyễn Thị Hoàn, người tỉnh Thừa Thiên, bà là con Diễn Phúc công Nguyễn Phúc Trung, mẹ họ Phùng. Bà sinh được ba người con trai: Nguyễn Phúc Đồng, Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long), Nguyễn Phúc Điểm và một cô con gái là Long Thành Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú.
Lăng Thoại Thánh là một công trình kiến trúc lăng tẩm có quy cách nghiêm cẩn, có giá trị cao về nghệ thuật kiến trúc và trang trí, gồm có cả lăng (nơi chôn) và tẩm (nơi thờ) nằm gần nhau. Đây là lăng của mẹ vị vua đầu triều Nguyễn (vua Gia Long) và cũng là lăng của một bà Hoàng thái hậu được xây dựng sớm nhất dưới triều Nguyễn.
Lăng quay về hướng chính Nam (tọa Tý hướng Ngọ), dùng núi Rệ làm tiền án. Kiến trúc bao gồm khu vực tẩm điện (nơi thờ) ở bên trái của lăng mộ, hai bên có tả hữu phối điện, phía trước có nghi môn, xung quanh xây tường gạch. Lăng mộ được xây trên một ngọn đồi được san xẻ và kè đá ở chung quanh. Trung tâm của lăng là một ngôi mộ bằng đá Thanh khá lớn nằm lộ thiên, bình phong phía sau trong các ô lòng giếng trang trí nhiều hình ảnh, đắp hai chữ Hán "Phúc" và "Lộc".
Phía trước cửa nghi môn đồ sộ ở vòng thành ngoài có 4 tầng sân lát gạch và đá, chung quanh xây lan can thấp. Các tầng sân này nối lại với nhau bằng những hệ thống bậc cấp; hai bên mỗi thành bậc đều đắp nổi hình rồng bằng vôi gạch. Trước mặt lăng có hồ Vuông là yếu tố "minh đường" cho khu vực này. Ở phía Nam của hồ xây hai trụ biểu khá lớn.
Cách một quãng ở bên trái lăng là khu tẩm điện, cũng tọa lạc trên một ngọn đồi và bao bọc chung quanh bằng một vòng thành. Điện thờ này là một tòa "nhà kép" làm theo kiểu "trùng thiểm điệp ốc". Nội thất trang trí bằng các đồ bản chạm trổ giống với kiểu trang trí ở điện Minh Thành ở Thiên Thọ Lăng. Hiện tại khu vực điện thờ bị hư hỏng hoàn toàn, nay chỉ còn phần nền móng của các công trình.
5. LĂNG HOÀNG CÔ
Lăng Hoàng Cô là lăng của Thái trưởng Công chúa Long Thành, tức Công chúa Ngọc Tú, chị cùng mẹ của Hoàng đế Gia Long. Bà mất vào năm 1825 và lăng được xây dựng cũng vào khoảng thời gian này. Long Thành Công chúa Ngọc Tú là người con gái đầu trong bốn người con gái của Nguyễn Phúc Luân. Bà là chị đầu của vua Gia Long, vợ của võ tướng Lê Phước Điển. Trong thời kỳ Nguyễn Ánh còn giao tranh với quân Tây Sơn ở Nam Bộ, Lê Phước Điển đã bị nhà Tây Sơn bắt và hy sinh vào năm 1783 sau khi tỏ ra vô cùng khẳng khái. Cảm kích trước tấm lòng trung kiên của chồng, người vợ trẻ tự nguyện không tái giá và sau khi nhà Nguyễn trở về Phú Xuân, bà nguyện xuất gia. Vua Gia Long chấp thuận xây cho bà một ngôi nhà nhỏ ở làng Xuân Dương gần Huế để tu tại gia, chứ không cho bà xuống tóc quy y.
Bà là cô ruột của vua Minh Mạng. Trước khi qua đời vào năm 1825, bà bày tỏ ý nguyện với vua Minh Mạng rằng sau khi bà mất, hãy cạo đầu và mặc áo cà sa cho bà rồi mới khâm liệm. Tuy nhiên, vua Minh Mạng không làm theo lời bà dặn vì lý do lễ giáo Nho giáo không cho phép. Dù vậy, nhà vua vẫn để tang cho cô của mình 5 ngày, ban tên hiệu "Long Thành Thái Trưởng Công Chúa", thụy là Trinh Tĩnh, đồng thời xây cho bà một ngôi lăng theo phong cách kiến trúc Phật giáo.
Nằm trên một ngọn đồi thấp, lăng quay mặt về hướng chính Nam, lấy núi Rệ làm tiền án. Tháp xây theo dạng bửu châu (Stupa) gồm 4 tầng đặt trên một cái bệ chia làm 3 cấp ở chính giữa, xung quanh có hai vòng thành hình chữ nhật bao bọc. Trên đỉnh tháp đắp hình hoa sen. Bình phong xây trước lối ra vào của vòng thành đắp nổi hình con phụng, xung quanh trang trí hoa lá. Ngay trước bình phong có tấm bia bằng đá Thanh dựng vào năm 1838, mặt trước đề dòng chữ: "Long Thành Thái Trưởng Công Chúa, Thụy Trinh Tĩnh chi tẩm". Bà được thờ chung với mẹ ở điện Thoại Thánh.
Ở vòng tường ngoài, mặt trước trổ một cửa duy nhất, trên xây mái giả, xung quanh trang trí bằng những ô hộc ăn sâu vào theo kiểu ô lòng giếng. Trên đỉnh cửa đắp hình hoa sen đơn giản. Trước mặt cửa có 3 tầng sân nằm liên tiếp nhau, mỗi sân dài 15m, rộng 4m. Lăng Hoàng Cô là một công trình kiến trúc đặc biệt trong lịch sử kiến trúc lăng tẩm của các thành viên thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn.
6. LĂNG THIÊN THỌ HỮU
Lăng Thiên Thọ Hữu là lăng của Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (1769 - 1846), vợ thứ của vua Gia Long, thân mẫu của Hoàng đế Minh Mạng. Sở dĩ gọi là lăng Thiên Thọ Hữu vì lăng nằm bên phải lăng Thiên Thọ, cách nhau khoảng 100m. Lăng Thiên Thọ Hữu gồm hai khu vực kiến trúc: khu vực lăng mộ và khu vực tẩm điện, nằm cách nhau chừng 50m theo hàng ngang, ven theo bờ Bắc của phần cuối hồ Dài. Cả hai khu vực đều nằm trên vùng đồi gọi là Thuận Sơn, nhưng có phương hướng kiến trúc khác nhau.
Khu vực lăng mộ quay mặt hướng Nam nghiêng nhẹ về phía Tây. Tiền án là núi Rệ (cao khoảng 618m), cận án là núi Ngọc Đường (cao khoảng 231m). Minh đường là mặt hồ hình bán nguyệt được cắt xén và uốn nắn từ hồ Dài. Ngôi mộ được bao quanh bởi hai vòng tường hình chữ nhật khá lớn. Mộ nằm lộ thiên xây bằng đá Thanh. Phía trước mộ đặt hương án và bình phong đều xây bằng đá Thanh. Bình phong sau mộ xây bằng vôi gạch, bên trên có mái giả và mặt trước trang trí hình ảnh bát bửu đắp nổi. Hai lá sách hai bên bình phong trang trí hình đầu rồng ngậm chữ "Thọ".
Trước cửa lăng có 4 tầng sân với những hệ thống tầng cấp và thành bậc chạm nổi hình rồng phụng. Bên kia bờ hồ là hai cột trụ biểu cao khoảng 12m, trên đỉnh tạo hình đèn lồng. Sau lưng khu lăng mộ là ngọn đồi chạy dài theo hướng Nam - Bắc đóng vai trò "hậu chẩm" bảo vệ phía sau. Khu vực điện thờ nằm trên ngọn đồi khá cao, dùng núi Ngọc Đường làm tiền án. Công trình chính ở khu vực này là điện Gia Thành, xung quanh bao bọc bởi vòng thành hình chữ nhật xây bằng gạch. Mặt trước trổ cửa tam quan hai tầng với hệ thống bậc cấp bằng đá Thanh chạm hình rồng kéo dài xuống gần bờ hồ.
7. LĂNG THIÊN THỌ (LĂNG GIA LONG)
Lăng Thiên Thọ là nơi an nghỉ của vua Gia Long (mất tháng 02/1820) và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (mất 1814). Lăng được khởi công xây dựng lần đầu vào năm 1814 và tiếp tục hoàn thiện trong các năm 1820 - 1833. Đây là công trình lớn nhất và mang giá trị nghệ thuật cao nhất trong quần thể lăng tẩm tại thôn Định Môn. Lăng bao gồm vài chục công trình kiến trúc lớn nhỏ, chia thành ba khu vực phân bố theo hàng ngang trên trục chính Bắc - Nam:
- Khu vực lăng mộ của vua và hoàng hậu: Nằm ở vị trí trung tâm.
- Khu vực nhà bia (Bi đình): Nằm ở bên trái.
- Khu vực điện thờ (Điện Minh Thành): Nằm ở bên phải.
Khu vực lăng mộ được xây trên ngọn đồi Chánh Trung Sơn, nhà bia xây trên đồi Thanh Sơn và điện thờ xây trên đồi Bạch Sơn. Theo nguyên tắc Dịch học: màu xanh thuộc phương Đông (Tả Thanh Long), màu trắng thuộc phương Tây (Hữu Bạch Hổ), hai ngọn đồi này đóng vai trò chầu vào mộ vua và hoàng hậu. Ngọn núi nằm chính diện trước lăng mộ được đặt tên là Đại Thiên Thọ Sơn làm tiền án; hồ Dài chảy từ trái sang phải qua trước mặt ba khu vực làm yếu tố "minh đường". Toàn bộ bờ hồ được xây kè bằng gạch vồ và đá núi.
Khu vực lăng mộ bao gồm Bửu thành, bên trong là hai ngôi mộ bằng đá Thanh (thạch thất) an táng thi hài vua Gia Long (Thế Tổ Cao Hoàng đế) và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Hai ngôi mộ lộ thiên có kích thước gần bằng nhau, đặt cách nhau 24cm theo quy tắc "nam tả nữ hữu". Trước mặt mỗi thạch thất có một hương án lớn bằng đá Thanh kiểu sập trổ chân quỳ. Hai ngôi mộ dùng chung bình phong trước và sau, bao bọc bởi hai vòng thành. Thành trong uốn cong ôm trọn khu mộ để giữ đất đỉnh đồi. Mặt nền Bửu thành lát đá Thanh.
Trước Bửu Thành môn có 6 tầng sân tế nối tiếp nhau từ cao xuống thấp, sân Bái đình rộng 49m lát gạch Bát Tràng với hai hàng tượng đá (voi, ngựa, 10 quan văn võ). Cuối sân Bái đình là bến đò xuống hồ Dài. Khu nhà bia (Bi đình) dạng cổ lầu hai tầng mái, bên trong đặt tấm bia đá Thanh chạm trổ tinh xảo ghi bài văn bia do vua Minh Mạng soạn thảo để ca ngợi công đức của vua cha.
Khu vực điện thờ sử dụng vật liệu gỗ làm chủ đạo. Nghi Môn là cổng chính dẫn vào điện Minh Thành – nơi thờ vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, hai bên có nhà Tả Vu và Hữu Vu. Điện Minh Thành xây theo kiểu "trùng thiềm điệp ốc". Gian giữa đặt khám thờ long vị Thế Tổ Cao Hoàng đế và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Nơi đây từng lưu giữ nhiều cổ vật giá trị như đồ tự khí, đồ ngự dụng và cả mũ trụ, áo giáp, gươm báu của vua Gia Long lúc sinh thời.
Trải qua hơn hai thế kỷ, lăng từng đứng trước nguy cơ hoang phế. Từ năm 1995 đến nay, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã tiến hành nhiều đợt trùng tu toàn diện: phục hồi điện Minh Thành, nhà Đông Vu, Tây Vu, nạo vét hệ thống thủy đạo, tôn tạo Bái đình, mộ phần và lăng Thiên Thọ Hữu. Đặc biệt, từ năm 2015, cầu Hữu Trạch và con đường bê tông mới được hoàn thành, giúp du khách dễ dàng đến thưởng ngoạn vẻ đẹp cổ kính, thâm trầm của lăng vua đầu triều Nguyễn.
Khám phá những giai thoại linh thiêng tại Thiên Thọ Lăng: Lăng Gia Long không chỉ nổi tiếng với quy hoạch kiến trúc phong thủy đỉnh cao mà còn bao phủ bởi những câu chuyện truyền miệng kỳ bí, khiến bất cứ ai khi đặt chân đến đây cũng cảm nhận được sự kính ngưỡng thâm trầm của núi rừng Cố đô.
Kinh Nghiệm Du Lịch Huế & Trải Nghiệm Văn Hóa Cùng Da Nang Local Tour
Hành trình khám phá Cố đô Huế và quần thể lăng tẩm triều Nguyễn không chỉ đơn thuần là chuyến thưởng lãm cảnh quan, mà là một cuộc dạo chơi ngược dòng lịch sử. Để cảm nhận trọn vẹn sự tĩnh lặng, thâm nghiêm của Lăng Gia Long cùng các di tích Cố đô, việc lựa chọn góc nhìn từ những người am hiểu văn hóa bản địa là chìa khóa tạo nên sự khác biệt.
🌿 Công ty Du lịch Bản Địa Đà Nẵng – Da Nang Local Tour: Chân Thành & Am Hiểu Vùng Đất Miền Trung
Hướng đến những giá trị bản địa nguyên bản, Công ty Du lịch Bản Địa Đà Nẵng (Da Nang Local Tour) - mang đến cho du khách những hành trình "đo ni đóng giày" mang đậm hơi thở miền Trung. Chúng tôi không chỉ đồng hành cùng bạn trên từng chặng đường mà còn trao gửi sự chân thành, lòng hiếu khách và những câu chuyện lịch sử sâu lắng từ chính những người con bản địa.










Khám phá 95 địa điểm du lịch Đà Nẵng, Hội An và Quảng Nam năm 2026, được chọn lọc, loại bỏ nội dung trùng lặp và sắp xếp theo từng nhóm trải nghiệm: biểu tượng sông Hàn và những cây cầu, khu vui chơi – nghỉ dưỡng, biển đảo, di sản – bảo tàng – tâm linh, làng nghề, núi rừng – sinh thái, chợ, ẩm thực và phố đêm. Mỗi địa điểm đều có mô tả, từ khóa liên quan, lưu ý tham quan và gợi ý kết hợp tuyến đường, giúp du khách dễ dàng lựa chọn điểm đến, xây dựng lịch trình và tải cẩm nang PDF để tham khảo. Nội dung được biên tập bởi Công ty Du lịch Bản Địa Đà Nẵng – Da Nang Local Tourism, đơn vị chuyên Tour Local Đà Nẵng, Hội An, Huế. Tư vấn hành trình: 0818 433 579.